Dị sừng Darier: Một bệnh da di truyền hiếm gặp

Ngày đăng: 03/03/2026 THS.BS Thái Diệu Vân

1.     Đặt vấn đề

 Dị sừng Darier (Darier Disease hay còn gọi là keratosis follicularis) là một bệnh da liễu di truyền hiếm gặp, do đột biến gen ATP2A2. Bệnh đặc trưng bởi các sẩn dày sừng màu nâu-vàng có mùi hôi, xuất hiện chủ yếu ở vùng da tiết bã. Bài viết này giúp có cái nhìn tổng quan về căn nguyên, biểu hiện lâm sàng, các yếu tố khởi phát, chẩn đoán và các lựa chọn điều trị hiện nay, đồng thời cập nhật các hướng nghiên cứu tiềm năng trong liệu pháp gen và điều trị đích.

Dị sừng Darier là một rối loạn di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, lần đầu tiên được mô tả bởi bác sĩ Ferdinand-Jean Darier năm 1889. Bệnh có tỷ lệ mắc 1/30.000 – 1/100.000 người, thường khởi phát ở tuổi dậy thì hoặc đầu tuổi trưởng thành, và có xu hướng kéo dài mạn tính suốt đời.

2.     Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Đột biến gen ATP2A2 (vị trí 12q23–q24.1) mã hóa cho protein SERCA2 – một bơm canxi nội bào có vai trò điều hòa nồng độ ion Ca²⁺ trong lưới nội sinh chất. Sự suy giảm hoạt động SERCA2 dẫn đến rối loạn kết dính tế bào và tăng quá trình biệt hóa sừng hóa, biểu hiện lâm sàng là các tổn thương dày sừng có tính chất mạn tính.

3.     Biểu hiện lâm sàng

 • Tổn thương da chính: Sẩn sừng màu nâu, nhờn, phân bố đối xứng ở vùng tiết bã như ngực, lưng trên, trán, rãnh mũi má, da đầu, sau tai.

• Mùi hôi: Do vi khuẩn và nấm phát triển thứ phát trên bề mặt tổn thương.

• Móng: Biểu hiện rãnh dọc, lõm điểm, có thể dày và vỡ.

• Niêm mạc: Tổn thương dạng hạt trắng hoặc xám trên niêm mạc miệng hoặc sinh dục (30–50% trường hợp).

• Biến thể:

✔     Dạng nhẹ: Chỉ có tổn thương móng hoặc tổn thương lác đác vùng trung tâm mặt.

✔      Dạng lan tỏa: Toàn thân, nặng, gây suy giảm chất lượng sống.

Hình ảnh lâm sàng bệnh nhân nam 19 tuổi, đến khám và được chẩn đoán 18/6/2025 tại Bệnh viện da liễu TW xác định Dị sừng Darier

Hình ảnh lâm sàng bệnh nhân nam 19 tuổi, đến khám và được chẩn đoán 18/6/2025 tại Bệnh viện da liễu TW xác định Dị sừng Darier

Hình ảnh lâm sàng bệnh nhân nam 52 tuổi, đến khám và được chẩn đoán 31/7/2025 tại Bệnh viện da liễu TW xác định Dị sừng Darier/ Bội nhiễm kỹ sinh trùng ghẻ

Hình ảnh lâm sàng bệnh nhân nam 52 tuổi, đến khám và được chẩn đoán 31/7/2025 tại Bệnh viện da liễu TW xác định Dị sừng Darier/ Bội nhiễm kỹ sinh trùng ghẻ

Bệnh nhân nữ 54t Được chẩn đoán Dị sừng Darier. Ảnh trước và sau điều trị 1 tháng tại Bệnh viện Da liễu TW.

Bệnh nhân nữ 54t Được chẩn đoán Dị sừng Darier. Ảnh trước và sau điều trị 1 tháng tại Bệnh viện Da liễu TW.

4.     Yếu tố khởi phát / làm nặng

• Ánh nắng mặt trời

• Nhiễm khuẩn da

• Stress

• Tăng thân nhiệt hoặc tiết mồ hôi

• Một số thuốc: lithium, steroid

5.     Chẩn đoán

• Lâm sàng: Hình thái và phân bố tổn thương đặc hiệu.

• Sinh thiết da:

✔     Dày sừng bất thường

✔     Hiện tượng mất kết dính (acantholysis)

✔     Biểu hiện tế bào dyskeratosis (tế bào hình hạt và hình thể tròn).

Hình ảnh mô bệnh học bệnh Darier

Hình ảnh mô bệnh học bệnh Darier

• Xét nghiệm gen: Phát hiện đột biến ATP2A2 (đặc biệt trong các ca nghi ngờ không điển hình).

6.     Điều trị:

Không đặc hiệu – điều trị triệu chứng:

●        Điều trị tại chỗ:

✔     Retinoid bôi (tretinoin, adapalene) 0,025–0,05% tretinoin hoặc adapalene 0,1%. Thời gian tối thiểu để đánh giá đáp ứng: 6–8 tuần. Cần theo sõi sát kích ứng và nên kết hợp cùng dưỡng ẩm

✔      Kem kháng sinh nếu bội nhiễm (thường gặp tụ cầu vàng ): Mupirocin 2%; Acid fusidic. Bôi 2 lần/ngày trong 7-10 ngày. Không nên dùng kéo dài vì dễ kháng thuốc.

✔      Corticoid: tại chỗ ngắn hạn 1-2 tuần khi có viêm đỏ, ngứa nhiều hoặc bùng phát cấp, không phải điều trị duy trì lâu dài.

- Tùy vị trí và mức độ tổn thương: Vùng da mỏng (mặt, cổ, bẹn, nách) sử dụng orticoid nhẹ – trung bình: Hydrocortisone 1–2.5%, Desonide, Mometasone furoate (loại nhẹ, bôi mỏng). Tránh loại mạnh vì dễ gây teo da.

-  Vùng da dày (ngực, lưng, tay chân): Corticoid trung bình – mạnh: Betamethasone valerate, Mometasone furoate, Clobetasol (chỉ dùng rất ngắn ngày); thời gian dùng: 7 - 14 ngày/ 1 đợt●       Điều trị toàn thân:

✔     Acitretin (liều 0,25–0,5 mg/kg/ngày[1] [2] ): Hiệu quả cao nhưng có nhiều tác dụng phụ

- Thời gian điều trị: Đánh giá đáp ứng sau 8–12 tuần. Nếu hiệu quả → có thể duy trì nhiều tháng đến vài năm với liều thấp nhất còn hiệu quả. Bệnh dễ tái phát khi ngưng thuốc.

- Lịch theo dõi xét nghiệm

Trước khi dùng: Công thức máu; AST, ALT (chức năng gan); Mỡ máu (cholesterol, triglycerid)

Sau khi bắt đầu: 4 tuần đầu: kiểm tra gan + mỡ máu. Sau đó mỗi 3 tháng nếu ổn định có thể giãn ra 3–6 tháng khi dùng liều duy trì lâu dài.

- Theo dõi tác dụng phụ (thường gặp liên quan vitamin A): Khô môi (gần như 100%), khô da, bong tróc; khô mắt, viêm kết mạc, khô mũi, chảy máu mũi; tóc rụng nhẹ. Tăng men gan, tăng mỡ máu. Lâu dài có thể gặp: đau cơ, đau khớp vôi hóa dây chằng (hiếm, khi dùng nhiều năm)

- Tác dụng phụ trong thai kỳ: Gây quái thai rất cao, phải tránh thai: Trong suốt thời gian dùng thuốc, và 3 năm sau khi ngưng thuốc. Không hiến máu trong thời gian dùng và 3 năm sau ngưng.

- Liều thường dùng: 10–25 mg/ngày. Có thể giảm còn 10 mg cách ngày khi ổn định

✔      Isotretinoin: Thay thế khi acitretin không dung nạp. Liều dùng: 0,3–0,5 mg/kg/ngày, có thể duy trì liều thấp kéo dài nếu cần. Tác dụng phụ và theo dõi giống Acitretin. Tuy nhiên thời gian bán thải của Isotretinoin ngắn hơn nên chỉ cần tránh thai và hiến máu 1 tháng sau ngưng thuốc.

✔      Kháng sinh: điều trị kháng sinh theo vi khuẩn gây bội nhiễm

✔      Liệu pháp bổ trợ: Vitamin C, kẽm, dưỡng ẩm, tránh ánh nắng

✔      Điều trị mới:

- Liệu pháp gen: Đang được nghiên cứu, tập trung vào sửa chữa đột biến ATP2A2

-  Liệu pháp tế bào gốc và thay da sinh học: Tiềm năng trong tương lai

-  Chăm sóc tâm lý: Vì bệnh ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống và tâm lý

7.     Tiên lượng:

Bệnh có xu hướng kéo dài mạn tính, có đợt cấp tái phát theo mùa hoặc yếu tố kích thích. Tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng ảnh hưởng rõ rệt đến thẩm mỹ và chất lượng sống, đặc biệt là các ca nặng hoặc có biến chứng tâm lý như trầm cảm, lo âu.

 8.     Kết luận

Dị sừng Darier là một bệnh lý di truyền hiếm gặp với đặc điểm lâm sàng đặc trưng, nhưng lại dễ bị chẩn đoán nhầm với các bệnh lý sừng hóa khác. Việc hiểu rõ cơ chế bệnh sinh và tiến bộ trong điều trị giúp cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân. Cần có sự phối hợp liên ngành giữa da liễu – di truyền – tâm lý để quản lý và điều trị bệnh hiệu quả và toàn diện hơn trong tương lai, thay vì chỉ kiểm soát triệu chứng như hiện nay. Hiện nay, tại Bệnh viện Da liễu Trung ương có Phòng khám Các bệnh da di truyền, hiếm gặp chuyên khám chẩn đoán và điều trị cho nhóm bệnh lý khó này.

Tài liệu tham khảo

1.      Cooper SM, Burge SM. Darier’s disease: epidemiology, pathophysiology, and management. Am J Clin Dermatol. 2003;4(2):97-105. doi:10.2165/00128071-200304020-00003

2.      Sakuntabhai A, Ruiz-Perez V, Carter S, et al. Mutations in ATP2A2, encoding a Ca2+ pump, cause Darier disease. Nat Genet. 1999;21(3):271-277. doi:10.1038/6784

3.      Dodiuk-Gad RP, Cohen-Barak E, Khayat M, et al. Darier disease in Israel: combined evaluation of genetic and neuropsychiatric  aspects. Br J Dermatol. 2016;174(3):562-568. doi:10.1111/bjd.14220

4.      https://dalieu.vn/benh-darier-d3338.html

Viết bài: THS.BS Thái Diệu Vân,

TS,BS Vũ Thái Hà - Phòng khám Các bệnh da di truyền, hiếm gặp

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn