Viêm tuyến mồ hôi mủ: đừng nhầm với mụn nhọt

Ngày đăng: 07/07/2026 bvdalieutrunguong

Nốt sưng đau, rỉ mủ ở nách, bẹn, dưới vú hoặc mông nếu tái đi tái lại không nên xem là “mụn nhọt” thông thường. Đó có thể là viêm tuyến mồ hôi mủ - bệnh da mạn tính cần được khám và điều trị đúng.

Viêm tuyến mồ hôi mủ là gì?

  • Viêm tuyến mồ hôi mủ, còn gọi là hidradenitis suppurativa (HS) hoặc acne inversa, là bệnh viêm da mạn tính. Bệnh đặc trưng bởi các nốt sưng đau nằm sâu dưới da, hay gặp ở vùng có nếp gấp và dễ cọ xát như nách, bẹn, mông, quanh hậu môn, dưới vú hoặc mặt trong đùi.
  • HS không phải bệnh lây truyền, không phải bệnh lây qua đường tình dục và không phải do “ở bẩn”.
  • Cơ chế là tình trạng bít tắc và vỡ nang lông, sau đó kích hoạt phản ứng viêm. Tên gọi có chữ “tuyến mồ hôi” vì bệnh hay xuất hiện ở vùng có tuyến mồ hôi tiết mùi, nhưng bệnh không đơn giản chỉ là tắc tuyến mồ hôi.
  • Điều quan trọng nhất: nếu các nốt “mụn nhọt” cứ tái phát ở cùng một vùng, người bệnh không nên chỉ tự mua thuốc hoặc nặn rạch tại nhà. Cần nghĩ đến HS và đi khám chuyên khoa Da liễu sớm.

Dấu hiệu nào gợi ý bệnh?

  • Nốt sưng đau dưới da, có thể đỏ, nóng, căng, kéo dài nhiều ngày đến nhiều tuần.
  • Ổ áp xe có mủ hoặc dịch máu, đôi khi có mùi khó chịu.
  • Tổn thương lặp lại ở nách, bẹn, dưới vú, mông, quanh hậu môn hoặc vùng sinh dục.
  • Vết thâm, sẹo xơ, sẹo co kéo sau mỗi đợt viêm.
  • Nhiều lỗ nhỏ hoặc “đường hầm” dưới da nối các ổ viêm với nhau, rỉ dịch dai dẳng. Đây thường là dấu hiệu bệnh đã tiến triển nặng hơn.
  • HS có thể bắt đầu rất âm thầm: ban đầu chỉ là một nốt cục sưng đau giống mụn nhọt. Vì tổn thương tự vỡ rồi xẹp xuống, nhiều người tưởng đã khỏi. Nhưng nếu sau đó nốt cục sưng đau tái phát tại vị trí cũ hoặc gần đó, cần đi khám để được đánh giá đúng.
Hình 1. Tổn thương sớm ở vùng nách: nốt sưng đau hoặc ổ áp xe đơn độc, dễ nhầm với mụn nhọt

Hình 1. Tổn thương sớm ở vùng nách: nốt sưng đau hoặc ổ áp xe đơn độc, dễ nhầm với mụn nhọt

Vì sao bệnh dễ bị chẩn đoán muộn?

  • HS thường bị nhầm với mụn trứng cá, viêm nang lông, nhọt, áp xe da hoặc lông mọc ngược. Bệnh cũng xuất hiện ở vùng kín đáo nên nhiều người ngại đi khám, chỉ chịu đựng hoặc tự điều trị trong thời gian dài.
  • Chẩn đoán HS chủ yếu dựa vào ba điểm: dạng tổn thương, vị trí điển hình và tính chất tái phát. Hiện không có một xét nghiệm máu đơn giản nào có thể tự xác định HS cho mọi trường hợp. Khi cần, bác sĩ có thể lấy dịch xét nghiệm để xem có nhiễm khuẩn kèm theo hay không.
  • Nhiều nghiên cứu ghi nhận người bệnh HS có thể mất trung bình 7-10 năm mới được chẩn đoán đúng. Chậm chẩn đoán làm tăng nguy cơ sẹo, đường hầm dưới da, đau mạn tính và giảm đáp ứng điều trị.
Hình 2. Tổn thương tái phát nhiều lần với nhiều ổ mủ, lỗ rò và đường hầm dưới da

Hình 2. Tổn thương tái phát nhiều lần với nhiều ổ mủ, lỗ rò và đường hầm dưới da

Ai dễ mắc hoặc dễ bùng phát hơn?

HS thường khởi phát sau tuổi dậy thì, hay gặp ở người trẻ và người trưởng thành. Một số yếu tố có thể liên quan đến bệnh hoặc làm bệnh nặng hơn:

  • Có người thân trong gia đình mắc HS.
  • Hút thuốc lá hoặc thường xuyên tiếp xúc nicotine.
  • Thừa cân, béo phì, vùng da nếp gấp ma sát nhiều.
  • Rối loạn nội tiết, mụn trứng cá nặng, rậm lông hoặc một số bệnh viêm khác.
  • Những yếu tố này không có nghĩa là người bệnh “gây ra bệnh cho mình”. Người gầy, không hút thuốc vẫn có thể mắc HS. Tuy nhiên, giảm ma sát, kiểm soát cân nặng khi thừa cân và bỏ thuốc lá có thể giúp giảm số đợt bùng phát ở nhiều người.

Bệnh có thể gây ảnh hưởng gì?

  • HS không chỉ gây tổn thương ngoài da. Các cơn đau làm người bệnh khó giơ tay, khó ngồi, khó đi lại hoặc khó ngủ. Dịch rỉ và mùi khó chịu khiến nhiều người mặc cảm, né giao tiếp, ảnh hưởng công việc, học tập và đời sống cá nhân.
  • Nếu viêm lặp đi lặp lại, da có thể bị sẹo xơ, co kéo và hình thành đường hầm. Nhiễm khuẩn thứ phát có thể xảy ra trên vùng da tổn thương. Ở bệnh rất nặng, kéo dài nhiều năm, đặc biệt vùng mông - quanh hậu môn, y văn ghi nhận nguy cơ ung thư tế bào vảy tăng lên nhưng biến chứng này không phổ biến.
  • Vì HS ảnh hưởng mạnh đến tâm lý, người bệnh nên nói thẳng với bác sĩ nếu đang lo âu, mất ngủ, đau nhiều hoặc ngại sinh hoạt. Điều trị tốt không chỉ nhằm làm khô tổn thương mà còn giúp người bệnh lấy lại chất lượng sống.
Hình 3. Giai đoạn nặng: có thể hình thành các đường hầm xơ sẹo với diện tích tổn thương lớn

Hình 3. Giai đoạn nặng: có thể hình thành các đường hầm xơ sẹo với diện tích tổn thương lớn

Người bệnh nên làm gì?

  • Đi khám chuyên khoa Da liễu, nhất là khi tổn thương tái phát từ hai lần trở lên trong 6 tháng.
  • Chụp ảnh tổn thương lúc đang bùng phát, ghi lại vị trí, thời gian, mức đau, tình trạng rỉ dịch và các thuốc đã dùng. Nhật ký này giúp bác sĩ đánh giá bệnh chính xác hơn.
  • Không tự nặn, chích rạch, đắp lá hoặc dùng thuốc truyền miệng. Việc này dễ làm viêm nặng hơn, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và sẹo.
  • Vệ sinh nhẹ nhàng, giữ vùng da khô thoáng, mặc quần áo rộng, chất liệu mềm, thấm hút tốt. Tránh cạo, nhổ lông hoặc chà xát mạnh khi vùng da đang viêm.
  • Nếu hút thuốc, hãy lập kế hoạch bỏ thuốc. Nếu thừa cân, giảm cân từ từ và an toàn. Đây là biện pháp hỗ trợ, không thay thế điều trị y khoa.

Điều trị bằng cách nào?

  • Mục tiêu điều trị là giảm số đợt bùng phát, làm lành vết thương, kiểm soát đau - mùi, hạn chế sẹo và giúp người bệnh sinh hoạt bình thường hơn.
  • Kế hoạch điều trị phải cá thể hóa theo mức độ bệnh, vị trí tổn thương, bệnh đi kèm và điều kiện của từng người.
  • Với bệnh nhẹ, bác sĩ có thể chỉ định thuốc bôi, thuốc uống, chăm sóc vết thương, thuốc giảm đau phù hợp hoặc tiêm thuốc tại tổn thương. Với bệnh vừa đến nặng, có thể cần thuốc kháng viêm toàn thân, điều trị nội tiết ở người phù hợp, thuốc sinh học hoặc phối hợp phẫu thuật.
  • Một số thuốc sinh học như adalimumab, secukinumab và bimekizumab đã được phê duyệt ở một số khu vực cho HS mức độ vừa - nặng. Đây là nhóm thuốc khi dùng cần khám, sàng lọc và theo dõi chặt chẽ; người bệnh không tự mua hoặc tự ngưng thuốc.
  • Khi đã có đường hầm, sẹo xơ hoặc tổn thương lan rộng, phẫu thuật có thể cần thiết để lấy bỏ mô bệnh. Sau phẫu thuật, người bệnh vẫn cần theo dõi lâu dài vì HS là bệnh mạn tính, có thể tái phát ở vùng khác.

Khi nào cần đi khám ngay?

  • Đau tăng nhanh, vùng đỏ lan rộng, sốt, mệt nhiều hoặc nghi nhiễm trùng.
  • Ổ viêm rỉ mủ nhiều, có mùi hôi, không lành sau nhiều ngày.
  • Tổn thương ở quanh hậu môn, sinh dục, gây khó đi tiêu, khó tiểu hoặc khó đi lại.
  • Sẹo co kéo làm hạn chế giơ tay, ngồi, đứng hoặc vận động.
  • Đang mang thai, cho con bú, có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc ức chế miễn dịch.

Thông điệp cần nhớ là gì?

Viêm tuyến mồ hôi mủ không phải là “mụn nhọt do nóng trong người”, không lây và không phải do vệ sinh kém. Bệnh có thể kiểm soát tốt hơn nếu được nhận diện sớm, điều trị đúng và theo dõi lâu dài.

Đừng âm thầm chịu đau hoặc mặc cảm. Nếu có các nốt cục sưng đau ở nách, bẹn, dưới vú, mông hoặc quanh hậu môn cứ tái đi tái lại, hãy gặp bác sĩ Da liễu để được chẩn đoán và xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp.

Tài liệu tham khảo

1. American Academy of Dermatology. Hidradenitis suppurativa: Overview; Signs and symptoms; Diagnosis and treatment.

2. U.S. Food and Drug Administration. Hidradenitis Suppurativa. Content current as of 15/10/2024.

3. DermNet NZ. Hidradenitis suppurativa (Acne Inversa): A complete picture.

4. Martins IA, et al. Diagnostic Delay in Hidradenitis Suppurativa: Still an Unsolved Problem. Dermatology. 2024.

5. Zouboulis CC, et al. European S2k guidelines for hidradenitis suppurativa/acne inversa, part 2: Treatment. Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology. 2024/2025.

Viết bài: ThS.BS Nguyễn Đình Quân Khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và Phục hồi chức năng

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn