Vai trò của Xét nghiệm định danh 6 kháng thể đặc hiệu trong chẩn đoán các bệnh da bọng nước tự miễn

Ngày đăng: 02/03/2026 bvdalieutrunguong

1.  Đại cương

Bệnh da bọng nước tự miễn là một rối loạn miễn dịch, do cơ thể tạo ra tự kháng thể tấn công vào các protein kết dính tế bào da và các cấu trúc neo giữ giữa thượng bì – trung bì, khiến liên kết da bị phá vỡ và hình thành bọng nước. Tùy loại protein bị nhắm mục tiêu, bệnh được chia nhiều thể:

  • Pemphigus thông thường (pemphigus vulgaris) và pemphigus vảy lá (pemphigus foliaceus): tự kháng thể chống lại desmoglein 1 (160 KDal) và desmoglein 3 (130 KDal) là hai kháng nguyên chính trong cơ chế bệnh sinh của pemphigus.
  • Pemphigoid bọng nước (bullous pemphigoid): tự kháng thể chống BP180 (collagen XVII) và BP230 là thành phần của hemidesmosome.
  • Pemphigus á u (Paraneoplastic Pemphigus – PNP): tự kháng thể tấn công nhiều protein plakin như envoplakin, periplakin, desmoplakin, cùng với desmoglein 1, desmoglein 3. Liên quan các bệnh ác tính hoặc u lành (lymphoma, thymoma...).
  • Mucous membrane pemphigoid (MMP): tự kháng thể chống BP180, BP230, laminin 332 hoặc các thành phần vùng nối thượng bì – trung bì.
  • Epidermolysis bullosa acquisita (EBA): tự kháng thể chống collagen type VII, protein chính của các sợi neo.

Hiện nay, tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, kỹ thuật định danh 6 tự kháng thể đặc hiệu chống lại các kháng nguyên da (dsg1, dsg3, BP180, BP230, collagen VII, envoplakin) đã được triển khai thường quy. Đây là một bước tiến quan trọng trong chẩn đoán các bệnh da bọng nước tự miễn, giúp rút ngắn thời gian chẩn đoán, tăng độ chính xác và định hướng điều trị tối ưu cho người bệnh.

2. Báo cáo ca bệnh

Chúng tôi xin trình bày một trường hợp lâm sàng điển hình cho thấy giá trị vượt trội của xét nghiệm này trong thực hành:

Bệnh nhân nam, 65 tuổi, khởi phát bệnh 4 năm với các dát và sẩn đỏ, kèm theo ngứa ở tay và chân, sau đó xuất hiện bọng nước căng trên nền dát đỏ. Bệnh tái phát nhiều đợt, bệnh nhân đã khám và được chẩn đoán theo dõi Pemphigoid bọng nước trong suốt 4 năm dựa vào các xét nghiệm mô bệnh học, miễn dịch huỳnh quang trực tiếp, miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Tại thời điểm mà xét nghiệm định danh 6 kháng thể bằng ELISA chưa được triển khai.

Cách vào viện 4 tháng, bệnh tiến triển nặng hơn, bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Da liễu Trung ương khám với các đặc điểm:

  • Nhiều bọng nước căng, sắp xếp rải rác trên nền da viêm đỏ tập trung vùng tỳ đè như mu tay, mu chân, khuỷu tay, mông, đối xứng 2 bên, không có tổn thương niêm mạc.
  • Các tổn thương cũ để lại sẹo và dát tăng sắc tố kèm theo nhiều milia.
  • Dấu hiệu Nikolsky âm tính.
  • Mất móng tay và móng chân ở hầu hết các ngón.
  • Ngứa nhiều tại tổn thương da.
  • Tiền sử tăng huyết áp nhiều năm điều trị amlordipin, đái tháo đường tuýp II điều trị tiêm dưới da insulin, suy thượng thận điều trị hydrocortison không thường xuyên. Trước khi xuất hiện tổn thương không có tiền sử dùng thuốc gì khác.
Hình 1: Hình ảnh lâm sàng khi nhập viện của bệnh nhân (Nguồn: Bệnh viện Da Liễu Trung ương)

Hình 1: Hình ảnh lâm sàng khi nhập viện của bệnh nhân (Nguồn: Bệnh viện Da Liễu Trung ương)

Kết quả cận lâm sàng

  • Xét nghiệm máu: hồng cầu 3.71 G/L, hemoglobin 114 g/L, bạch cầu 11.1 G/L, bạch cầu đa nhân trung tính: 7.5 G/L, bạch cầu đa nhân ái toan: 0.38 G/L, tiểu cầu 512 G/L, CRP 84.6 mg/L, IgE 7.900 IU/mL
  • Tế bào học tổn thương dạng nang tại vị trí bọng nước: không có tế bào gai lệch hình, rải rác bạch cầu đa nhân trung tính và tế bào biểu mô, không có bạch cầu đa nhân ái toan.
  • Mô bệnh học:

+ Thượng bì: một phần thượng bì teo

+ Trung bì: tổn thương da bọng nước dưới thượng bì, xâm nhập viêm của bạch cầu đơn nhân quanh mạch, nhiều bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu đa nhân ái toan trong bọng nước và trung bì nông. Có tăng sinh xơ ở trung bì và có mạch máu hướng vuông góc với thượng bì

Kết luận: bệnh da bọng nước dưới thượng bì trên nền tổn thương sẹo.

  • Miễn dịch huỳnh quang trực tiếp: IgG và C3 dương tính thành dải tại màng đáy, IgA, IgM, IgE âm tính.
  • Miễn dịch huỳnh quang gián tiếp: IgG dương tính thành dải ở màng đáy
  • MDHQGT tách muối: IgG dương tính thành dải ở phần đáy của bọng nước.
  • Khi tiến hành xét nghiệm ELISA tìm 6 tự kháng thể đặc hiệu, tự kháng thể collagen type VII dương tính rõ rệt; kháng thể kháng BP180, BP230, desmoglein-1, desmoglein-3 và envoplakin đều âm tính.
Hình 2: Hình ảnh phiếu trả kết quả định danh 6 kháng thể (Nguồn: Bệnh viện Da Liễu Trung ương)

Hình 2: Hình ảnh phiếu trả kết quả định danh 6 kháng thể (Nguồn: Bệnh viện Da Liễu Trung ương)

Sự kết hợp giữa dữ liệu lâm sàng, mô bệnh học, miễn dịch huỳnh quang trực tiếp, miễn dịch huỳnh quang gián tiếp, miễn dịch huỳnh quang gián tiếp tách muối: kháng thể IgG dương tính thành dải về phía đáy bọng nước, cùng bằng chứng huyết thanh học dương tính với collagen VII, đã cho phép khẳng định chẩn đoán ly thượng bì bọng nước mắc phải. Đây là bệnh lý hiếm gặp, đặc trưng bởi tự kháng thể chống lại collagen type VII là thành phần chính của sợi neo tại màng đáy, gây ra bọng nước căng, dễ để lại sẹo trên lâm sàng. Bệnh lý này dễ chẩn đoán nhầm với pemphigoid bọng nước, pemphigoid sẹo, lupus ban đỏ hệ thống thể bọng nước…Việc thực hiện xét nghiệm ELISA tìm 6 tự kháng thể của các bệnh da bọng nước tự miễn có vai trò chẩn đoán xác định bệnh, đặc biệt trong các trường hợp chẩn đoán khó, dễ nhầm lẫn.

3. Kết luận

Việc triển khai thường quy kỹ thuật định danh 6 tự kháng thể đặc hiệu là một bước tiến quan trọng, mang lại giá trị vượt trội trong việc quản lý bệnh da bọng nước tự miễn. Vai trò của xét nghiệm này được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau:

  • Chẩn đoán xác định và chính xác: xét nghiệm giúp xác định chính xác mục tiêu tấn công của tự kháng thể vào các protein cụ thể (như desmoglein 1, 3 cho Pemphigus; BP180, 230 cho Pemphigoid; hay collagen VII cho EBA ). Từ đó cho phép khẳng định chẩn đoán mà các phương pháp truyền thống như miễn dịch huỳnh quang đôi khi chưa đủ để khu trú chính xác thể bệnh.
  • Giá trị đặc biệt trong chẩn đoán phân biệt: đối với những trường hợp có biểu hiện lâm sàng dễ nhầm lẫn – ví dụ giữa Pemphigoid bọng nước và Ly thượng bì bọng nước mắc phải (EBA) – xét nghiệm này đóng vai trò quyết định. Như trường hợp lâm sàng đã nêu, một bệnh nhân có thể bị chẩn đoán nhầm suốt 4 năm nếu chỉ dựa vào mô bệnh học và miễn dịch huỳnh quang thông thường; chỉ khi xét nghiệm ELISA 6 kháng thể cho kết quả collagen type VII dương tính, bệnh lý EBA mới được khẳng định.
  • Tối ưu hóa thời gian và hiệu quả điều trị: bằng cách rút ngắn thời gian chẩn đoán và tăng độ chính xác, xét nghiệm giúp bác sĩ đưa ra phác đồ điều trị trúng đích và tối ưu nhất cho người bệnh ngay từ sớm, tránh việc điều trị sai hướng kéo dài.

Tóm lại, xét nghiệm định danh 6 kháng thể là công cụ cận lâm sàng thiết yếu, giúp giải quyết những thách thức trong chẩn đoán phân biệt và nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân mắc các bệnh da bọng nước tự miễn phức tạp

 Tài liệu tham khảo

1. Aboobacker S, Shafi M, Sachithanandan S, et al. Evaluation of desmoglein 1 and 3 autoantibodies in pemphigus vulgaris: correlation with disease severity. J Clin Exp Dent. 2020;12(5):e440-e445. doi:10.4317/jced.56289.

2. Simionescu O, Tampa M, Georgescu SR, et al. Autoimmune pemphigus: difficulties in diagnosis and the role of desmosomal antigens. J Immunol Res. 2011.

3. Cao Z, Patel P, Ali S, et al. Bullous pemphigoid severity and levels of antibodies to BP180 and BP230: a systematic review and meta-analysis. JAMA Dermatol. 2024;160(11):1192-1200. doi:10.1001/jamadermatol.2024.3425.

4. Antiga E, Bech R, Maglie R, et al; European Academy of Dermatology and Venereology Task Force on Autoimmune Blistering Diseases. S2k guidelines on the management of paraneoplastic pemphigus/paraneoplastic autoimmune multiorgan syndrome initiated by the European Academy of Dermatology and Venereology (EADV). J Eur Acad Dermatol Venereol. 2023;37(6):1118-1134. doi:10.1111/jdv.18931

5. Hou, PC., Wang, HT., Abhee, S. et al. Investigational Treatments for Epidermolysis Bullosa. Am J Clin Dermatol 22, 801–817 (2021).

6. Miyamoto D, Gordilho JO, Santi CG, Porro AM. Epidermolysis bullosa acquisita. An Bras Dermatol. 2022;97(4):409-423. doi:10.1016/j.abd.2021.09.010a

Viết bài: BSNT Vũ Kim Dung

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

Dị sừng Darier: Một bệnh da di truyền hiếm gặp

Dị sừng Darier: Một bệnh da di truyền hiếm gặp

Dị sừng Darier (Darier Disease hay còn gọi là keratosis follicularis) là một bệnh da liễu di truyền hiếm gặp, do đột biến gen ATP2A2. Bệnh đặc trưng bởi các sẩn dày sừng màu nâu-vàng có mùi hôi, xuất hiện chủ yếu ở vùng da tiết bã.

Liệu pháp băng ẩm trong viêm da cơ địa

Liệu pháp băng ẩm trong viêm da cơ địa

Ung thư da hắc tố: Nhận biết sớm như thế nào?

Ung thư da hắc tố: Nhận biết sớm như thế nào?

Xét nghiệm kháng thể đặc hiệu – “chìa khóa ”  trong chẩn đoán và theo dõi điều trị  bệnh pemphigus

Xét nghiệm kháng thể đặc hiệu – “chìa khóa ” trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh pemphigus

U mạch sừng hóa (Angiokeratoma)

U mạch sừng hóa (Angiokeratoma)

U mạch sừng hóa (Angiokeratoma)

Vảy nến thể mủ toàn thân

Vảy nến thể mủ toàn thân

Vảy nến thể mủ toàn thân

Điều trị bệnh Vảy nến bằng thuốc sinh học: Những điều cần biết

Điều trị bệnh Vảy nến bằng thuốc sinh học: Những điều cần biết

Kiểm soát bệnh đồng mắc ở bệnh nhân Vảy nến

Kiểm soát bệnh đồng mắc ở bệnh nhân Vảy nến

Ung thư hắc tố ở móng (Nail unit melanoma -NUM)

Ung thư hắc tố ở móng (Nail unit melanoma -NUM)

Ung thư hắc tố đơn vị móng (Nail unit melanoma -NUM)

Porphyria da chậm (Porphyria cutanea tarda)

Porphyria da chậm (Porphyria cutanea tarda)

Porphyria da chậm (Porphyria cutanea tarda)

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn