Phản ứng Jarisch-Herxheimer dễ nhầm với phản vệ ở trẻ mắc giang mai bẩm sinh
Viêm tuyến mồ hôi mủ là bệnh viêm mạn tính
• Bản chất bệnh: Viêm tuyến mồ hôi mủ (Hidradenitis Suppurativa - HS) là bệnh viêm mạn tính, tái diễn của đơn vị nang lông. Bệnh không đơn thuần là nhiễm khuẩn.
• Vị trí thường gặp: Tổn thương hay xuất hiện ở nách, bẹn, dưới vú, mông và vùng sinh dục - những vùng có nếp gấp và nhiều tuyến apocrine.
• Biểu hiện chính: Người bệnh có thể xuất hiện nốt viêm đau, áp xe, nốt dạng nang, đường hầm và sẹo. Bệnh kéo dài có thể ảnh hưởng rõ đến sinh hoạt, tâm lý và chất lượng cuộc sống.
Điều trị cần dựa vào mức độ và kiểu hình bệnh
• Bệnh nhẹ: Ưu tiên thuốc tại chỗ và có thể phối hợp thuốc toàn thân như nhóm tetracycline khi cần.
• Bệnh trung bình đến nặng: Có thể cần kháng sinh phối hợp, điều trị nội tiết ở người bệnh phù hợp hoặc thuốc sinh học.
• Yếu tố quyết định lựa chọn thuốc: Bác sĩ cần đánh giá số lượng và vị trí tổn thương, áp xe, đường hầm, sẹo, mức độ đau, bệnh đồng mắc, giới tính, tình trạng sinh sản và khả năng tiếp cận thuốc.
• Điều trị phối hợp: Điều trị nội khoa có thể kết hợp thủ thuật hoặc phẫu thuật nếu tổn thương cấu trúc như đường hầm và sẹo cần can thiệp.
Thuốc tại chỗ phù hợp với tổn thương nhẹ
• Clindamycin bôi: Thường dùng cho các tổn thương viêm nông ở HS nhẹ. Thuốc có thể giảm số lượng tổn thương viêm nhưng hiệu quả hạn chế với áp xe và đường hầm sâu.
• Benzoyl peroxide hoặc sản phẩm làm sạch kháng khuẩn: Có thể dùng hỗ trợ, nhất là khi sử dụng clindamycin tại chỗ, nhằm góp phần hạn chế tình trạng kháng kháng sinh.
• Dưỡng ẩm và chăm sóc da: Giúp giảm kích ứng, hạn chế ma sát và duy trì hàng rào bảo vệ da.
Kháng sinh toàn thân cần được đánh giá lại đúng thời điểm
• Nhóm cycline: Doxycycline, tetracycline và minocycline có thể dùng ở HS nhẹ đến trung bình. Thường cần đánh giá lại đáp ứng sau khoảng 12 tuần.
• Clindamycin phối hợp rifampicin: Có thể được sử dụng ở HS trung bình - nặng hoặc khi người bệnh không đáp ứng đầy đủ với nhóm cycline.
• Các phác đồ khác: Rifampicin - moxifloxacin - metronidazole hoặc ertapenem có thể được cân nhắc ở một số trường hợp chọn lọc, đặc biệt khi bệnh nặng hoặc khó kiểm soát.
• Nguyên tắc sử dụng: Kháng sinh trong HS có cả vai trò kháng khuẩn và chống viêm. Không nên kéo dài hoặc lặp lại nhiều đợt kháng sinh mà không đánh giá lại chiến lược điều trị, nhất là khi đã có đường hầm và sẹo.
• Nguy cơ cần lưu ý: Cần hạn chế dùng kháng sinh phổ rộng kéo dài vì có thể tăng tác dụng không mong muốn và nguy cơ kháng thuốc.
Điều trị nội tiết phù hợp với một số phụ nữ
• Spironolactone: Có thể cân nhắc ở phụ nữ có biểu hiện gợi ý vai trò của androgen, nhất là khi bệnh bùng phát theo chu kỳ kinh nguyệt hoặc đi kèm hội chứng buồng trứng đa nang.
• Thuốc tránh thai nội tiết phối hợp: Có thể sử dụng ở người bệnh phù hợp, đặc biệt khi cần đồng thời kiểm soát các biểu hiện liên quan androgen.
• Metformin: Có thể cân nhắc khi HS đi kèm hội chứng buồng trứng đa nang, kháng insulin hoặc rối loạn chuyển hóa.
• Lựa chọn người bệnh: Điều trị nội tiết không áp dụng cho tất cả trường hợp. Bác sĩ cần cân nhắc tuổi, giới tính, bệnh đồng mắc và nguy cơ của từng thuốc.
Corticosteroid chỉ dùng trong tình huống chọn lọc
• Tiêm corticosteroid nội tổn thương: Có thể giúp giảm nhanh viêm và đau ở các nốt viêm cấp, khu trú. Phương pháp này không kiểm soát được toàn bộ quá trình bệnh.
• Corticosteroid toàn thân: Không được khuyến cáo dùng thường quy vì bệnh có thể tái phát và nguy cơ tác dụng không mong muốn tăng khi điều trị kéo dài.
Các thuốc toàn thân khác có vai trò hạn chế
• Dapsone: Có thể cân nhắc ở một số trường hợp chọn lọc. Hiệu quả nhìn chung còn hạn chế và cần theo dõi các tác dụng không mong muốn về huyết học.
• Retinoid toàn thân: Không phải lựa chọn thường quy cho HS; hiệu quả phụ thuộc vào kiểu hình bệnh.
• Thuốc ức chế miễn dịch khác: Có thể được sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt tại các trung tâm chuyên sâu, nhưng chưa có vai trò tương đương các thuốc sinh học đã có bằng chứng hiệu quả.
• Khi kháng sinh không đủ hiệu quả: Ở HS trung bình - nặng, nên chuyển sang chiến lược điều trị khác thay vì chỉ kéo dài kháng sinh.
Thuốc sinh học là lựa chọn quan trọng ở bệnh trung bình đến nặng
• Adalimumab: Là thuốc ức chế TNF-alpha có nhiều bằng chứng và được sử dụng rộng rãi trong HS. Thuốc được dùng ở bệnh trung bình - nặng khi điều trị thông thường chưa kiểm soát bệnh đầy đủ.
• Secukinumab: Là thuốc sinh học ức chế IL-17A và đã được đưa vào điều trị HS ở nhiều quốc gia.
• Bimekizumab: Tác động đồng thời lên IL-17A và IL-17F, tạo thêm lựa chọn cho người bệnh HS trung bình - nặng.
• Trước khi điều trị: Cần đánh giá yếu tố nguy cơ, sàng lọc nhiễm trùng phù hợp và theo dõi trong quá trình dùng thuốc.
• Nhóm người bệnh thường được cân nhắc: Gồm các trường hợp trung bình - nặng, tái phát, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống hoặc không kiểm soát đầy đủ bằng điều trị thông thường.
Điều trị tại Việt Nam cần phù hợp với điều kiện thực tế
• Chẩn đoán sớm: HS vẫn có thể bị chẩn đoán muộn hoặc nhầm với nhiễm khuẩn, áp xe hay bệnh lý nang lông. Nhận diện sớm giúp lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp hơn.
• Thuốc đang được sử dụng: Doxycycline, clindamycin, rifampicin và một số thuốc nội tiết có thể được cân nhắc tùy từng trường hợp.
• Khả năng tiếp cận thuốc sinh học: Thuốc sinh học ngày càng có vai trò trong HS trung bình - nặng. Tại Việt Nam, khả năng tiếp cận đang được cải thiện nhưng chi phí, khả năng chi trả và phạm vi chỉ định vẫn cần được cân nhắc.
• Cá thể hóa điều trị: Bác sĩ cần dựa vào mức độ bệnh, kiểu hình tổn thương, bệnh đồng mắc, các phương pháp đã sử dụng trước đó và điều kiện của từng người bệnh.
Người bệnh cần theo dõi lâu dài và giảm yếu tố làm nặng
• Theo dõi đều đặn: HS là bệnh mạn tính, tái diễn nên cần điều trị và theo dõi lâu dài.
• Không tự dùng kháng sinh kéo dài: Người bệnh không nên tự mua, tự kéo dài hoặc lặp lại kháng sinh khi chưa được bác sĩ đánh giá lại.
• Giảm yếu tố nguy cơ: Nên tránh hút thuốc lá, kiểm soát cân nặng nếu thừa cân hoặc béo phì, đồng thời hạn chế ma sát và kích ứng tại vùng tổn thương.
• Kiểm soát bệnh đi kèm: Cần đánh giá và điều trị các bệnh như béo phì, hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường, bệnh viêm ruột và bệnh lý khớp.
• Quan tâm sức khỏe tâm lý: Nếu người bệnh có lo âu, trầm cảm hoặc chất lượng cuộc sống giảm rõ, cần được đánh giá và hỗ trợ phù hợp.
• Khám chuyên khoa Da liễu sớm: Nên đi khám khi xuất hiện nốt viêm đau tái diễn, áp xe hoặc tổn thương ở nách, bẹn, dưới vú, mông hay vùng sinh dục.
Tài liệu tham khảo chính
1. Zouboulis CC, Bechara FG, Dickinson-Blok JL, et al. European S2k guidelines for the treatment of hidradenitis suppurativa/acne inversa - Part 2: Treatment. Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology. 2025.
2. Alikhan A, Sayed C, Alavi A, et al. North American clinical management guidelines for hidradenitis suppurativa. Journal of the American Academy of Dermatology.
3. Ingram JR, Jenkins-Jones S, Kotsou M, et al. British Association of Dermatologists guidelines for the management of hidradenitis suppurativa. British Journal of Dermatology.
4. Zouboulis CC, Desai N, Emtestam L, et al. European S1 guideline for the treatment of hidradenitis suppurativa/acne inversa. Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology.
5. Kimball AB, Okun MM, Williams DA, et al. Two Phase 3 Trials of Adalimumab for Hidradenitis Suppurativa. New England Journal of Medicine.
Tác giả: Trần Hậu Thạch Lâm – Nhóm chuyên đề Viêm tuyến mồ hôi mủ và bệnh lý tuyến mồ hôi
Sáng sớm: 6h30 - 7h30
Buổi sáng: 7h30 - 12h30
Buổi chiều: 13h30 - 16h30
Ngày T7, CN và ngày lễ:Buổi sáng: 7h30 - 12h00
Buổi chiều: 14h - 17h30