Dự phòng loét ngón ở người bệnh Xơ cứng bì hệ thống

Ngày đăng: 21/08/2026 bvdalieutrunguong

Loét ngón là biến chứng quan trọng của xơ cứng bì hệ thống (systemic sclerosis, SSc). Tổn thương gây đau, hạn chế chức năng bàn tay, dễ nhiễm trùng; trường hợp thiếu máu nặng có thể tiến triển thành hoại tử và mất mô đầu ngón. Không phải mọi trường hợp đều có thể phòng ngừa hoàn toàn, nhưng kiểm soát hiện tượng Raynaud, bảo vệ da khỏi chấn thương và phát hiện sớm dấu hiệu thiếu máu có thể giảm nguy cơ biến chứng.

 Vì sao người bệnh xơ cứng bì dễ loét ngón?

Xơ cứng bì hệ thống là bệnh tự miễn đặc trưng bởi tổn thương mạch máu, rối loạn miễn dịch và xơ hóa da/cơ quan. Ở đầu ngón, bệnh lý vi mạch làm giảm khả năng điều hòa lưu lượng máu; co mạch khi lạnh hoặc căng thẳng gây hiện tượng Raynaud, còn tổn thương mạch mạn tính làm tưới máu nền ngày càng kém. Khi thiếu máu kéo dài kết hợp với tì đè, nứt da, vi chấn thương hoặc lắng đọng canxi, da có thể trợt và hình thành loét.

Loét thường xuất hiện ở đầu ngón, quanh móng, mặt duỗi các khớp hoặc những điểm thường xuyên chịu va chạm. Loét thiếu máu có thể rất đau dù kích thước nhỏ.

 Raynaud và tổn thương sớm biểu hiện thế nào?

Cơn Raynaud thường xuất hiện khi gặp lạnh hoặc căng thẳng. Ngón tay có thể:

  • Trắng hoặc nhợt do giảm tưới máu.
  • Chuyển tím/xanh khi dòng máu tiếp tục giảm.
  • Đỏ, nóng hoặc đau khi máu trở lại; người bệnh có thể tê, châm chích hoặc đau nhói.

Không phải cơn nào cũng có đủ ba pha màu. Ở SSc, Raynaud thứ phát thường nặng hơn Raynaud nguyên phát và có thể đi kèm thiếu máu đầu ngón, loét hoặc hoại tử.

Hình 1. Hiện tượng Raynaud: đầu ngón trắng nhợt do giảm tưới máu, sau đó là tím

Hình 1. Hiện tượng Raynaud: đầu ngón trắng nhợt do giảm tưới máu, sau đó là tím

Hình 2. . Tổn thương thiếu máu/loét - hoại tử khu trú ở ngón tay người bệnh xơ cứng bì hệ thống.

Hình 2. . Tổn thương thiếu máu/loét - hoại tử khu trú ở ngón tay người bệnh xơ cứng bì hệ thống.

Người bệnh có thể làm gì để dự phòng loét?

  • Giữ ấm toàn thân, không chỉ bàn tay. Mặc nhiều lớp áo, mang tất và găng tay khi trời lạnh hoặc ở phòng điều hòa. Đeo găng trước khi ra ngoài, tránh nhúng tay vào nước lạnh và hạn chế thay đổi nhiệt độ đột ngột. Khi tay lạnh, làm ấm từ từ bằng môi trường ấm hoặc nước ấm vừa phải. Tránh dùng nước quá nóng trực tiếp lên vùng đang tê vì có thể gây bỏng mà người bệnh không nhận biết
  • Bảo vệ da và móng. Dùng chất làm sạch dịu nhẹ, thoa kem hoặc mỡ dưỡng ẩm không hương liệu sau rửa tay và khi da khô. Cắt móng vừa phải, tránh cắt sâu khóe móng hoặc tự bóc da thừa. Da nứt không phải nguyên nhân chính của loét thiếu máu nhưng làm tăng nguy cơ tổn thương và nhiễm trùng.
  • Giảm va chạm và tì đè. Đeo găng bảo hộ phù hợp khi làm việc nhà, làm vườn hoặc tiếp xúc vật sắc/hóa chất. Tránh cầm nắm quá chặt kéo dài. Với vùng đau hoặc dễ cọ xát, có thể dùng vật liệu che bảo vệ mềm, không dính; nếu đã có vết loét, lựa chọn băng nên dựa vào lượng dịch, mô hoại tử, tình trạng nhiễm trùng và độ ẩm của nền vết thương thay vì cố làm khô vết loét.
  • Không hút thuốc. Hút thuốc làm xấu thêm tuần hoàn đầu ngón và có thể làm Raynaud nặng hơn. Người bệnh nên được hỗ trợ cai thuốc nếu cần.
  • Chủ động xử trí cơn Raynaud. Khi ngón bắt đầu trắng, tím, tê hoặc đau, rời khỏi môi trường lạnh, làm ấm toàn thân và cử động nhẹ bàn tay. Hạn chế các yếu tố khởi phát đã nhận biết; kiểm soát căng thẳng có thể giúp giảm các cơn do stress.
  • Dùng thuốc đúng đơn và tái khám định kỳ. Thuốc giãn mạch có thể gây đau đầu, chóng mặt hoặc hạ huyết áp; người bệnh không tự tăng, giảm hoặc ngừng thuốc khi chưa trao đổi với bác sĩ.
  • Quan sát bàn tay mỗi ngày. Kiểm tra đầu ngón, quanh móng, mặt duỗi khớp và các điểm tì đè. Chú ý đau khu trú mới xuất hiện, tăng nhạy cảm khi chạm, vết nứt, trợt, chấm sẫm màu hoặc vùng da đổi màu kéo dài. Ảnh chụp cùng góc và ánh sáng có thể giúp theo dõi diễn biến.

Khi có vùng nghi loét, nên xử trí thế nào?

  • Giữ vùng tổn thương sạch, tránh cọ xát, ngâm lâu hoặc tác động nhiệt quá nóng/lạnh.
  • Không tự chọc, nặn, bóc vảy, cắt mô đen hoặc tự cắt lọc. Việc xử trí mô hoại tử cần đánh giá tưới máu và thực hiện bởi nhân viên y tế có kinh nghiệm.
  • Che phủ bằng băng không dính phù hợp nếu vùng da bị trợt hoặc dễ va chạm. Mục tiêu chăm sóc vết thương gồm kiểm soát mô tổn thương, nhiễm trùng/viêm, cân bằng độ ẩm và bảo vệ bờ vết thương.
  • Tiếp tục giữ ấm và dùng thuốc Raynaud theo đúng đơn. Liên hệ bác sĩ sớm nếu đau tăng, màu da xấu đi, bắt đầu loét hoặc tổn thương không cải thiện.

Điều trị Raynaud và loét ngón thế nào?

Điều trị cần cá thể hóa theo mức độ Raynaud, thiếu máu đầu ngón, huyết áp và bệnh kèm. Mục tiêu là cải thiện tưới máu, thúc đẩy liền loét, kiểm soát đau/nhiễm trùng và phòng loét mới.

  • Raynaud do SSc: thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridine, thường là nifedipine, được khuyến cáo đầu tay. Thuốc ức chế phosphodiesterase-5 (PDE5) có thể được cân nhắc khi đáp ứng chưa đủ; iloprost truyền tĩnh mạch được dùng trong trường hợp nặng hoặc kháng trị.
  • Loét ngón: PDE5 inhibitor và/hoặc iloprost tĩnh mạch có thể được cân nhắc để hỗ trợ liền loét. Bosentan có vai trò làm giảm số loét ngón mới ở người bệnh phù hợp, nhưng không phải thuốc làm lành trực tiếp một vết loét đang có.
  • Chăm sóc tại chỗ: bác sĩ đánh giá tưới máu, mô hoại tử, nhiễm trùng, đau, tì đè và lắng đọng canxi. Băng vết thương, cắt lọc nông/sâu hoặc can thiệp ngoại khoa chỉ được lựa chọn theo đặc điểm từng tổn thương; các vết loét phức tạp nên được quản lý bởi nhóm đa chuyên khoa có kinh nghiệm về SSc và chăm sóc vết thương.

Trường hợp thiếu máu nguy kịch, hoại tử, nghi viêm xương hoặc nhiễm trùng lan rộng cần đánh giá khẩn và có thể cần can thiệp mạch/ngoại khoa.

 Khi nào cần đi khám sớm hoặc khám ngay?

Cần được nhân viên y tế đánh giá sớm khi có một trong các dấu hiệu:

  • Đau đầu ngón tăng nhanh, đau liên tục hoặc đau nhiều hơn rõ rệt so với trước.
  • Ngón tay lạnh kéo dài, tái nhợt/tím không hồi phục sau làm ấm, hoặc xuất hiện vùng tím sẫm/đen.
  • Vết loét mới, loét lan rộng, chảy dịch nhiều hoặc bộc lộ mô sâu.
  • Đỏ, sưng, nóng; có mủ, mùi hôi hoặc đau tăng quanh vết loét.
  • Sốt, rét run, mệt nhiều hoặc triệu chứng toàn thân khác.

Các biểu hiện này có thể gợi ý thiếu máu đầu ngón nặng, nhiễm trùng, hoại tử hoặc tổn thương sâu và không nên chờ tự cải thiện.

 Bác sĩ khuyên gì để giảm nguy cơ tái phát?

"Giữ ấm - giữ da nguyên vẹn - kiểm soát Raynaud - phát hiện sớm” là bốn nguyên tắc dễ nhớ. Tuy nhiên, loét ngón trong SSc chủ yếu xuất phát từ bệnh lý mạch máu nên chăm sóc tại nhà không thay thế điều trị giãn mạch và đánh giá chuyên khoa. Người bệnh có Raynaud nặng, loét tái diễn hoặc dấu hiệu thiếu máu đầu ngón cần được theo dõi định kỳ để điều chỉnh thuốc và xử trí các yếu tố thuận lợi như chấn thương, tì đè, nhiễm trùng hoặc lắng đọng canxi.

 Tài liệu tham khảo

1. Del Galdo F, Lescoat A, Conaghan PG, et al. EULAR recommendations for the treatment of systemic sclerosis: 2023 update. Ann Rheum Dis. 2025;84(1):29-40. doi:10.1136/ard-2024-226430.

2. Campochiaro C, Suliman YA, Giuggioli D, et al. Recommendations for the local management of digital ulcers in systemic sclerosis: A report from the World Scleroderma Foundation (WSF) Ad hoc committee. J Scleroderma Relat Disord. 2025. doi:10.1177/23971983251339821.

3. Adigun R, Goyal A, Hariz A. Systemic Sclerosis (Scleroderma). In: StatPearls [Internet]. StatPearls Publishing. Last update: April 5, 2024. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK430875/

4. DermNet. Raynaud phenomenon. https://dermnetnz.org/topics/raynaud-phenomenon (truy cập 11/08/2026).

5. American Academy of Dermatology. Self-care: 10 ways to relieve discomfort from scleroderma. https://www.aad.org/public/diseases/a-z/scleroderma-self-care (truy cập 11/08/2026).

Viết bài: ThS.BS. Đặng Thị Lương - Khoa Điều trị nội trú ban ngày, Bệnh viện Da liễu Trung ương

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn