Yếu tố tiên lượng tái phát trong bệnh Pemphigus thông thường
Pemphigus là nhóm bệnh bọng nước tự miễn trong thượng bì. Tự kháng thể tấn công protein kết dính giữa tế bào sừng, gây ly gai và tạo bọng nước nông, dễ vỡ.
Các thể thường gặp:
Hiện nay, mục tiêu điều trị là làm lành tổn thương, duy trì lui bệnh và giảm liều corticosteroid tối đa có thể.
Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế trung tâm là tự kháng thể IgG chống desmoglein 3 (Dsg3) và/hoặc desmoglein 1 (Dsg1). Dsg là protein giúp tế bào sừng bám chặt vào nhau.
Ý nghĩa lâm sàng:
Dấu hiệu nhận biết
Chẩn đoán
Nồng độ anti-Dsg thường tương quan với hoạt tính bệnh, nhưng quyết định điều trị vẫn phải dựa trên lâm sàng.
Cơ chế tác dụng của rituximab
- Độc tế bào phụ thuộc bổ thể: phần Fc hoạt hóa bổ thể, hình thành phức hợp tấn công màng và gây ly giải tế bào B.
- Độc tế bào phụ thuộc kháng thể: tế bào NK và các tế bào miễn dịch nhận diện phần Fc của rituximab, sau đó tiêu diệt tế bào B đích.
- Thực bào phụ thuộc kháng thể: đại thực bào và bạch cầu thực bào tế bào B đã được rituximab “đánh dấu”.
- Tín hiệu chết tế bào: liên kết CD20 có thể kích hoạt đường truyền tín hiệu dẫn tới chết tế bào theo chương trình.
Bằng chứng hiệu quả của rituximab
Rituximab có giá trị vì tác động vào cơ chế bệnh sinh trung tâm của pemphigus, đồng thời giúp giảm phơi nhiễm corticosteroid - yếu tố liên quan nhiều biến chứng khi dùng kéo dài.
Cách hiểu thực hành: rituximab không chỉ là thuốc “cứu vãn” cho bệnh kháng trị. Với pemphigus vừa - nặng, đặc biệt PV, thuốc có thể được cân nhắc sớm để tăng khả năng lui bệnh bền vững và giảm độc tính do corticosteroid kéo dài.
Bằng chứng an toàn và theo dõi
Đánh giá an toàn của rituximab cần đặt trong bối cảnh so sánh. Trong Ritux 3, nhóm rituximab có ít biến cố bất lợi nặng hơn nhóm dùng prednisone kéo dài. Ngược lại, trong PEMPHIX, biến cố bất lợi nghiêm trọng ở nhóm rituximab nhiều hơn nhóm mycophenolate mofetil. Vì vậy, rituximab hiệu quả cao nhưng không phải thuốc “không độc tính”.
Theo dõi an toàn nên đi cùng theo dõi hiệu quả: số tổn thương mới, tốc độ lành vết trợt, liều corticosteroid, anti-Dsg1/anti-Dsg3 và nhu cầu tái điều trị.
Ca lâm sàng minh họa
Bệnh nhân nam, 44 tuổi, bệnh 2 năm với bọng nước ở tay, chân, thân mình, kèm trợt niêm mạc miệng và sinh dục.
Bệnh nhân đi khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương được chẩn đoán pemphigus thông thường với kết quả mô bệnh học (thượng bì có hiện tượng ly gai trên màng đáy, bọng nước trong thượng bì), miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (IgG dương tính khoảng gian bào toàn bộ chiều dày thượng bì với đậm độ như nhau), miễn dịch huỳnh quang gián tiếp (IgG dương tính khoảng gian bào ở nồng độ pha loãng cao nhất 1/1280), ELISA ( kháng thể Desmoglein 1 dương tính 21, kháng thể Desmoglein 3 dương tính 42.3).
Bệnh nhân giai đoạn đầu được điều trị Methylprednisolone 60mg/ngày sau giảm 48mg/ngày nhưng đáp ứng kém.
Sau đó bệnh nhân được điều truyền rituximab tấn công theo phác đồ và duy trì sau 6 tháng. Hiện tại sau liều duy trì lần 1, bệnh nhân điều trị Medrol 4mg, đã hết tổn thương da và niêm mạc.
Kết luận
Rituximab là điều trị đích có cơ sở sinh học rõ ràng: thuốc làm giảm tế bào B, giảm tự kháng thể kháng Desmoglein và giúp kiểm soát bệnh bền vững hơn. Với pemphigus vừa - nặng, đặc biệt pemphigus thông thường, rituximab nên được cân nhắc sớm trong chiến lược điều trị cá thể hóa để đạt lui bệnh, giảm tái phát và giảm độc tính do corticosteroid kéo dài.
Tài liệu tham khảo
1. DermNet NZ. Pemphigus vulgaris.
2. Ingold CJ, Kaur R. Pemphigus Vulgaris. StatPearls. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2024.
3. Joly P, Horvath B, Patsatsi A, et al. Updated S2K guidelines on the management of pemphigus vulgaris and foliaceus initiated by the European Academy of Dermatology and Venereology (EADV). J Eur Acad Dermatol Venereol. 2020;34(9):1900-1913.
4. Werth VP, Joly P, Mimouni D, et al. Rituximab versus Mycophenolate Mofetil in Patients with Pemphigus Vulgaris. N Engl J Med. 2021;384(24):2295-2305.
5. Tedbirt B, Maho-Vaillant M, Houivet E, et al. Sustained Remission Without Corticosteroids Among Patients With Pemphigus Who Had Rituximab as First-Line Therapy: Follow-Up of the Ritux 3 Trial. JAMA Dermatol. 2024;160(3):290-296.
Viết bài: BSCKII. Đặng Bích Diệp - TS.BSCKII. Quách Thị Hà Giang -
Khoa Bệnh da Tự miễn và Vảy nến
Đăng bài: Phòng Công tác xã hội
Sáng sớm: 6h30 - 7h30
Buổi sáng: 7h30 - 12h30
Buổi chiều: 13h30 - 16h30
Ngày T7, CN và ngày lễ:Buổi sáng: 7h30 - 12h00
Buổi chiều: 14h - 17h30