Thuốc ức chế 5-alpha reductase trong rụng tóc nội tiết Androgen

Ngày đăng: 07/07/2026 bvdalieutrunguong

1.Rụng tóc androgen

 Rụng tóc nội tiết androgen (Androgenetic Alopecia – AGA) là dạng rụng tóc không sẹo phổ biến nhất, gặp ở khoảng 40–50% người trưởng thành. Bệnh liên quan đến yếu tố di truyền, androgen và lão hóa nang tóc, trong đó dihydrotestosterone (DHT) giữ vai trò trung tâm.

 DHT được tạo từ testosterone nhờ enzyme 5α-reductase. Ở người có nang tóc nhạy cảm di truyền, DHT gắn vào thụ thể androgen tại nang tóc, làm nang tóc thu nhỏ dần, tóc dày chuyển thành tóc tơ, pha mọc tóc ngắn lại và tóc thưa dần theo thời gian. Ngoài androgen, viêm vi thể quanh nang tóc, stress oxy hóa và rối loạn vi tuần hoàn cũng có thể góp phần làm bệnh tiến triển mạn tính.

 AGA thường khởi phát từ tuổi 20–30 ở nam giới, muộn hơn ở nữ giới và tăng dần theo tuổi. Bệnh có tính gia đình rõ, gặp ở mọi chủng tộc. Nam giới thường tụt đường chân tóc vùng trán – thái dương và hói vùng đỉnh đầu; nữ giới thường thưa tóc lan tỏa vùng đỉnh, trong khi đường tóc trước trán thường còn bảo tồn. Da đầu thường không viêm, không sẹo, nhưng có thể kèm tăng tiết bã nhờn hoặc cảm giác tóc yếu, dễ gãy rụng.

 Chẩn đoán AGA chủ yếu dựa vào lâm sàng và trichoscopy. Trichoscopy thường ghi nhận đường kính sợi tóc không đều, tăng tóc tơ, nhiều đơn vị nang tóc chỉ có một sợi và giảm mật độ tóc. Xét nghiệm máu chỉ cần thực hiện khi nghi ngờ thiếu sắt, rối loạn tuyến giáp, thiếu vi chất hoặc cường androgen ở nữ giới. Sinh thiết da đầu ít khi cần, chủ yếu dùng khi chẩn đoán khó hoặc cần phân biệt với rụng tóc sẹo.

 AGA không nguy hiểm tính mạng nhưng ảnh hưởng rõ đến ngoại hình, tâm lý và chất lượng sống, đặc biệt ở người trẻ tuổi và phụ nữ. Trong điều trị hiện nay, thuốc ức chế 5α-reductase giữ vai trò quan trọng vì tác động trực tiếp vào cơ chế DHT. Finasteride và dutasteride là hai thuốc được nghiên cứu nhiều nhất, giúp giảm rụng tóc, cải thiện mật độ tóc và làm chậm tiến triển hói đầu.

Hình 1: Tổn thương bệnh nhân rụng tóc androgen: A.Sợi tóc thu nhỏ, mảnh hơn, mật độ tóc thưa làm lộ da đầu vùng đỉnh và trán. B,C. Đường chân tóc vùng trán có xu hướng rút lui về phía sau (tạo hình chữ M rõ). Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, Bệnh viện da liễu Trung Ương.

Hình 1: Tổn thương bệnh nhân rụng tóc androgen: A.Sợi tóc thu nhỏ, mảnh hơn, mật độ tóc thưa làm lộ da đầu vùng đỉnh và trán. B,C. Đường chân tóc vùng trán có xu hướng rút lui về phía sau (tạo hình chữ M rõ). Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, Bệnh viện da liễu Trung Ương.

2. Điều trị và thách thức

Điều trị rụng tóc nội tiết androgen còn nhiều thách thức vì bệnh tiến triển mạn tính, liên quan di truyền và nội tiết, nên thường cần điều trị lâu dài để duy trì hiệu quả. Các phương pháp như minoxidil, PRP, laser năng lượng thấp và cấy tóc có thể cải thiện mật độ tóc, nhưng đáp ứng khác nhau giữa từng bệnh nhân. Một số phương pháp cần dùng liên tục, chi phí cao, còn thiếu chuẩn hóa phác đồ hoặc không ngăn được tiến triển của bệnh nền.

Trong các lựa chọn hiện nay, thuốc ức chế 5α-reductase giữ vai trò quan trọng vì tác động trực tiếp vào cơ chế DHT. Nhóm thuốc này giúp làm chậm thu nhỏ nang tóc, kéo dài pha mọc tóc và cải thiện mật độ tóc. Finasteride và dutasteride là hai thuốc được nghiên cứu nhiều nhất, có hiệu quả trong giảm rụng tóc và làm chậm tiến triển hói đầu.

3. Thuốc ức chế 5α-reductase trong điều trị rụng tóc androgen

Cơ chế tác dụng

Thuốc ức chế 5α-reductase tác động trực tiếp vào cơ chế bệnh sinh của AGA bằng cách giảm tạo dihydrotestosterone (DHT) từ testosterone.

Khi DHT giảm, quá trình thu nhỏ nang tóc chậm lại, pha mọc tóc kéo dài hơn, sợi tóc dày hơn và mật độ tóc được cải thiện.

Finasteride chủ yếu ức chế type II; dutasteride ức chế cả type I và II nên có tác dụng giảm DHT mạnh hơn.

Nhóm thuốc này có thể phối hợp với minoxidil, PRP hoặc cấy tóc để tăng hiệu quả điều trị.

Bằng chứng hiệu quả

Nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc ức chế 5α-reductase giúp giảm rụng tóc, tăng mật độ tóc và làm chậm tiến triển hói đầu.

Finasteride được nghiên cứu lâu dài, hiệu quả rõ ở vùng đỉnh và vùng giữa da đầu, nhất là nam giới giai đoạn sớm.

Dutasteride có thể cho hiệu quả mạnh hơn, đặc biệt ở bệnh nhân đáp ứng chưa tốt với finasteride.

Các dạng tại chỗ hoặc tiêm vi điểm cũng cho kết quả khả quan, có thể giảm hấp thu toàn thân.

Ở nữ giới, thuốc có thể được cân nhắc trong một số trường hợp chọn lọc, nhưng cần theo dõi chặt chẽ do nguy cơ trên thai kỳ.

Chỉ định sử dụng

Thuốc thường dùng cho nam giới trưởng thành bị AGA mức độ nhẹ đến trung bình.

Có thể cân nhắc trong AGA trung bình – nặng, tiến triển nhanh hoặc đáp ứng kém với điều trị trước đó.

Ở nữ giới, chỉ sử dụng khi đã được bác sĩ chuyên khoa đánh giá kỹ, đặc biệt phải loại trừ thai kỳ.

Điều trị cần duy trì lâu dài; ngừng thuốc thường làm rụng tóc tiến triển trở lại.

Độ an toàn và tác dụng phụ

Thuốc nhìn chung dung nạp tốt khi dùng đúng chỉ định.

Tác dụng phụ cần lưu ý gồm giảm ham muốn, rối loạn cương, giảm xuất tinh, căng tức vú hoặc thay đổi tâm trạng; đa số hiếm gặp và có thể hồi phục.

Thuốc có thể làm giảm PSA huyết thanh, cần lưu ý khi theo dõi bệnh lý tuyến tiền liệt.

Chống chỉ định ở phụ nữ có thai hoặc có khả năng mang thai.

Dạng tại chỗ hoặc tiêm vi điểm thường ít tác dụng phụ toàn thân hơn, chủ yếu gây kích ứng, đỏ da hoặc đau nhẹ tại chỗ.

Theo dõi hiệu quả

Cần theo dõi định kỳ để đánh giá giảm rụng tóc, mật độ tóc, độ dày sợi tóc và tác dụng không mong muốn.

Ảnh chụp chuẩn hóa, thang điểm lâm sàng và trichoscopy giúp đánh giá đáp ứng khách quan hơn.

Không cần xét nghiệm máu thường quy nếu bệnh nhân ổn định và dung nạp tốt; có thể theo dõi PSA ở nam giới lớn tuổi hoặc có bệnh tuyến tiền liệt.

Hiệu quả thường cần vài tháng mới rõ, nên cần tư vấn trước về thời gian đáp ứng và tính chất điều trị duy trì.

4. Minh họa bằng chứng hiệu quả của một số bệnh nhân rụng tóc nội tiết androgen tại phòng khám rụng tóc bệnh viện Da liễu Trung Ương.

Hình 2: Bệnh nhân số 1, nam 34 tuổi, rụng tóc androgen nhiều năm, ảnh trước khi điều trị (Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương)

Hình 2: Bệnh nhân số 1, nam 34 tuổi, rụng tóc androgen nhiều năm, ảnh trước khi điều trị (Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương)

Hình 3: Bệnh nhân số 1, sau điều trị 5 tháng bằng Finasteride 1mg/ ngày(Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương)

Hình 3: Bệnh nhân số 1, sau điều trị 5 tháng bằng Finasteride 1mg/ ngày(Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương)

Hình 4: Bệnh nhân số 2, nam 24 tuổi, rụng tóc androgen khoảng 5 năm nay, ảnh trước khi điều trị (Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương

Hình 4: Bệnh nhân số 2, nam 24 tuổi, rụng tóc androgen khoảng 5 năm nay, ảnh trước khi điều trị (Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương

Hình 5: Bệnh nhân số 2, sau điều trị 5 tháng bằng Finasteride 1mg/ ngày(Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương)

Hình 5: Bệnh nhân số 2, sau điều trị 5 tháng bằng Finasteride 1mg/ ngày(Nguồn: Phòng khám rụng tóc thể mảng và bệnh lý tóc, bệnh viện Da liễu Trung Ương)

5. Kết luận

Thuốc ức chế 5α-reductase giữ vai trò trung tâm trong điều trị nội khoa rụng tóc androgen nhờ giảm hình thành DHT, từ đó làm chậm thu nhỏ nang tóc, giảm rụng tóc và cải thiện mật độ tóc. Finasteride và dutasteride là hai thuốc được nghiên cứu nhiều nhất, có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với minoxidil, PRP, cấy tóc để tăng hiệu quả.

 Nhóm thuốc này nhìn chung dung nạp tốt, nhưng cần tư vấn trước về nguy cơ tác dụng phụ như rối loạn chức năng tình dục, thay đổi tâm trạng, căng tức vú và ảnh hưởng đến chỉ số PSA. Dạng tại chỗ hoặc mesotherapy có thể giúp giảm hấp thu toàn thân. Với hiệu quả đã được chứng minh và độ an toàn tương đối tốt, thuốc ức chế 5α-reductase vẫn là lựa chọn quan trọng trong chiến lược điều trị AGA hiện nay.

 Tài liệu tham khảo

1. Landells I., Chow E., Gupta A. K., et al. (2025). A Canadian Consensus on Androgenetic Alopecia: Approach and Management. Journal of Cutaneous Medicine and Surgery, 29(5_suppl):5S-14S.

2. Manabe M., Tsuboi R., Itami S., et al. (2018). Guidelines for the diagnosis and treatment of male-pattern and female-pattern hair loss, 2017 version. Journal of Dermatology, 45(11):1235–1246.

3.Lee S., Lee Y. B., Choe S. J., Lee W.-S. (2018). Adverse Sexual Effects of Treatment with Finasteride or Dutasteride for Male Androgenetic Alopecia: A Systematic Review and Meta-analysis. Acta Dermato-Venereologica, 99(1):12–17.

4. Almudimeegh A., AlMutairi H., AlTassan F., et al. (2024). Comparison between dutasteride and finasteride in hair regrowth and reversal of miniaturization in male and female androgenetic alopecia: a systematic review. Dermatology Reports, 16(3):6134.

5. Lee H. S., Sim W.-Y., Park S. N., et al. (2010). Efficacy and tolerability of dutasteride in male pattern hair loss: a randomized, double-blind, placebo-controlled trial. Journal of the American Academy of Dermatology, 63(2):252–258.

 Viết bài: TS.BS. Nguyễn Thị Hà Vinh - Khoa Điều trị nội trú ban ngày

Đăng bài: Phòng Công tác xã hội

dalieu.vn dalieu.vn dalieu.vn